Lịch sử nhà trường

Dòng chảy thời gian của một thế kỷ với những thành tựu to lớn, THPT chuyên Lê Hồng Phong đã và đang nỗ lực hướng tới Kỷ niệm 100 năm thành lập. Hãy điểm lại những tháng năm đầy biến chuyển đã qua nhưng vô cùng rực rỡ, những dấu ấn của lịch sử, của truyền thống hiếu học, yêu nước, lan tỏa niềm tự hào về các thế hệ thầy trò suốt thế kỷ qua.

  • Tiền thân của trường THPT chuyên Lê Hồng Phong là trường Thành Chung Nam Định ra đời theo nghị định số 2455 do Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ký ngày 24-08-1920.

  • Trường có 2 lớp (năm thứ nhất và năm thứ hai), học nhờ trường Cửa Bắc. Người Pháp giảng dạy một số môn. Người Việt Nam có thêm thầy Vũ Văn Roãn.

  • Với 3 lớp, trường chuyển về phố Gốc Ngái. Nhà trường có thêm các thầy Nguyễn Văn Bằng, Mai Phương, Nguyễn Gia Tường.

  • Giám đốc Nha học chính Bắc Kì quyết định cho Nam Định được mở tiếp năm thứ tư. Do đó, trường mới được xây dựng ở đầu phố Bến Ngự (nơi đặt trường Tiểu học Phạm Hồng Thái bây giờ).

  • Trường chuyển ra địa điểm mới và theo Nghị định số 2419 lúc bấy giờ của toàn quyền Đông Dương ký ngày 23-09-1924, trường đổi tên là Cao đẳng tiểu học Pháp-Việt.

  • Nhà trường tuyển 80 học sinh (vẫn chưa tuyển nữ sinh), nhưng năm học sau chỉ tuyển 40 học sinh vì thiếu lớp học. Năm 1925 Sac-lơ Pa-trix, một nhà văn, được bổ nhiệm làm hiệu trưởng.

  • Trường có thêm nhiều thầy dạy, các thầy người Việt Nam, tính đến năm 1925 có thêm 15 người. Học sinh trường Thành Chung Nam Định có truyền thống học giỏi và yêu nước, chịu ảnh hưởng của các phong trào yêu nước và phong trào cách mạng sớm lan tỏa vào trường trong giai đoạn này.

  • Nhà yêu nước Phan Chu Trinh mất. Nhân dân Nam Định cũng đã đấu tranh đòi được tổ chức lễ truy điệu cụ Phan, nòng cốt là học sinh trường Thành Chung. Học sinh đã bãi khóa và tổ chức thành công lễ truy điệu.Năm 1927 đồng chí Nguyễn Văn Hoan đã tổ chức chi bộ VN TNCMĐCH đầu tiên ở trường Thành Chung.

  • Nhiều học sinh của trường Thành Chung...lần lượt được kết nạp Đảng. Năm 1928 có một số gia nhập Đảng Cộng Sản: anh Nghiêm Tử Trình (sau này là Ủy viên Ủy ban Hành chính Hà nội những năm 1950) và nhà văn Nguyễn Tuân.

  • Bộ máy nhà trường có nhiều thay đổi. Thực dân Pháp khủng bố mạnh. Nhiều học sinh là nòng cốt của phong trào đã thôi học, đi hoạt động cách mạng.

  • Nhà trường có thêm một số giáo viên. Hiệu trưởng Agard bị đổi đi nơi khác, Pierre Maneval về thay. Pháp cho xây dựng một trường lớn có 8 lớp ở đầu đường Cổng Hậu. Di tích còn lại của trường nay là phố Thành Chung.

  • Trường chuyển về địa điểm mới và bắt đầu nhận học sinh nữ. Mỗi lớp có khoảng 5 nữ sinh. Năm học 1938-1939, nhà trường có nhiều thay đổi về bộ máy.

  • Có thêm nhiều thầy nối tiếp nhau về trường. Năm 1942 trường cao đẳng tiểu học Pháp-Việt đổi tên thành trường Trung học. Sau đó lại được đổi tên thành trường Trung Học Nguyễn Khuyến. Ít lâu sau thầy Phó Đức Tố, giáo sư trường Bưởi chính thức về làm hiệu trưởng.

  • Trường đổi tên thành trường Trung Học Chuyên Khoa Nguyễn Khuyến có Ban Toán-Lý-Hóa và ban Vạn vật. Lần đầu tiên bậc trung học chuyên khoa được mở ở thành phố Nam Định. Năm 1947 trường chuyển đến xã Yên Mô, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Một bộ phận của trường Nguyễn Khuyến, chủ yếu là cấp 2, tản cư về Trà Bắc, huyện Xuân Trường Nam Định, do thầy Đào Đình Khánh làm hiệu trưởng.

  • Pháp đánh Phát Diệm (Ninh Bình), trường THCK Nguyễn Khuyến chuyển vào thôn Ngô Xá, xã Đại Đồng, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đổi tên thành trường THCK Nguyễn Thượng Hiền, có các Ban Toán- Lý - Hóa, Ban Vạn vật là Ban Ngoại ngữ. Năm 1950, Thầy Phó Đức Tố làm hiệu trưởng trường THCK Nguyễn Thượng Hiền

  • Liên khu 3, đã phát triển thêm một số trường cấp 3 do các thầy của trường Nguyễn Thượng Hiền được cử sang làm hiệu trưởng), đến khi giải phóng, những trường này hợp nhất lại thành trường cấp 3 Liên khu 3 và trở về đặt trụ sở tại thành phố Nam Định (1954).

  • Trường đổi tên thành trường cấp III Lê Hồng Phong.

  • Do đế quốc Mỹ bắn phá miền Bắc nên trường đã sơ tán về xã Nhân Tiến và Nhân Thắng huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam. Sau khi hiệp định Paris được ký kết, đầu năm 1973 trường lại trở về địa điểm cũ.

  • Trường có quyết định của UBND tỉnh Nam Định đổi tên trường cấp III Lê Hồng Phong thành trường THPT chuyên Lê Hồng Phong.

Tiền thân của trường THPT chuyên Lê Hồng Phong là trường Thành Chung Nam Định ra đời theo nghị định số 2455 do Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ký ngày 24-08-1920.

Trường có 2 lớp (năm thứ nhất và năm thứ hai), học nhờ trường Cửa Bắc. Người Pháp giảng dạy một số môn. Người Việt Nam có thêm thầy Vũ Văn Roãn.

Với 3 lớp, trường chuyển về phố Gốc Ngái. Nhà trường có thêm các thầy Nguyễn Văn Bằng, Mai Phương, Nguyễn Gia Tường.

Giám đốc Nha học chính Bắc Kì quyết định cho Nam Định được mở tiếp năm thứ tư. Do đó, trường mới được xây dựng ở đầu phố Bến Ngự (nơi đặt trường Tiểu học Phạm Hồng Thái bây giờ).

Trường chuyển ra địa điểm mới và theo Nghị định số 2419 lúc bấy giờ của toàn quyền Đông Dương ký ngày 23-09-1924, trường đổi tên là Cao đẳng tiểu học Pháp-Việt.

Nhà trường tuyển 80 học sinh (vẫn chưa tuyển nữ sinh), nhưng năm học sau chỉ tuyển 40 học sinh vì thiếu lớp học. Năm 1925 Sac-lơ Pa-trix, một nhà văn, được bổ nhiệm làm hiệu trưởng.

Trường có thêm nhiều thầy dạy, các thầy người Việt Nam, tính đến năm 1925 có thêm 15 người. Học sinh trường Thành Chung Nam Định có truyền thống học giỏi và yêu nước, chịu ảnh hưởng của các phong trào yêu nước và phong trào cách mạng sớm lan tỏa vào trường trong giai đoạn này.

Nhà yêu nước Phan Chu Trinh mất. Nhân dân Nam Định cũng đã đấu tranh đòi được tổ chức lễ truy điệu cụ Phan, nòng cốt là học sinh trường Thành Chung. Học sinh đã bãi khóa và tổ chức thành công lễ truy điệu.Năm 1927 đồng chí Nguyễn Văn Hoan đã tổ chức chi bộ VN TNCMĐCH đầu tiên ở trường Thành Chung.

Nhiều học sinh của trường Thành Chung...lần lượt được kết nạp Đảng. Năm 1928 có một số gia nhập Đảng Cộng Sản: anh Nghiêm Tử Trình (sau này là Ủy viên Ủy ban Hành chính Hà nội những năm 1950) và nhà văn Nguyễn Tuân.

Bộ máy nhà trường có nhiều thay đổi. Thực dân Pháp khủng bố mạnh. Nhiều học sinh là nòng cốt của phong trào đã thôi học, đi hoạt động cách mạng.

Nhà trường có thêm một số giáo viên. Hiệu trưởng Agard bị đổi đi nơi khác, Pierre Maneval về thay. Pháp cho xây dựng một trường lớn có 8 lớp ở đầu đường Cổng Hậu. Di tích còn lại của trường nay là phố Thành Chung.

Trường chuyển về địa điểm mới và bắt đầu nhận học sinh nữ. Mỗi lớp có khoảng 5 nữ sinh. Năm học 1938-1939, nhà trường có nhiều thay đổi về bộ máy.

Có thêm nhiều thầy nối tiếp nhau về trường. Năm 1942 trường cao đẳng tiểu học Pháp-Việt đổi tên thành trường Trung học. Sau đó lại được đổi tên thành trường Trung Học Nguyễn Khuyến. Ít lâu sau thầy Phó Đức Tố, giáo sư trường Bưởi chính thức về làm hiệu trưởng.

Trường đổi tên thành trường Trung Học Chuyên Khoa Nguyễn Khuyến có Ban Toán-Lý-Hóa và ban Vạn vật. Lần đầu tiên bậc trung học chuyên khoa được mở ở thành phố Nam Định. Năm 1947 trường chuyển đến xã Yên Mô, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Một bộ phận của trường Nguyễn Khuyến, chủ yếu là cấp 2, tản cư về Trà Bắc, huyện Xuân Trường Nam Định, do thầy Đào Đình Khánh làm hiệu trưởng.

Pháp đánh Phát Diệm (Ninh Bình), trường THCK Nguyễn Khuyến chuyển vào thôn Ngô Xá, xã Đại Đồng, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đổi tên thành trường THCK Nguyễn Thượng Hiền, có các Ban Toán- Lý - Hóa, Ban Vạn vật là Ban Ngoại ngữ. Năm 1950, Thầy Phó Đức Tố làm hiệu trưởng trường THCK Nguyễn Thượng Hiền

Liên khu 3, đã phát triển thêm một số trường cấp 3 do các thầy của trường Nguyễn Thượng Hiền được cử sang làm hiệu trưởng), đến khi giải phóng, những trường này hợp nhất lại thành trường cấp 3 Liên khu 3 và trở về đặt trụ sở tại thành phố Nam Định (1954).

Trường đổi tên thành trường cấp III Lê Hồng Phong.

Do đế quốc Mỹ bắn phá miền Bắc nên trường đã sơ tán về xã Nhân Tiến và Nhân Thắng huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam. Sau khi hiệp định Paris được ký kết, đầu năm 1973 trường lại trở về địa điểm cũ.

Trường có quyết định của UBND tỉnh Nam Định đổi tên trường cấp III Lê Hồng Phong thành trường THPT chuyên Lê Hồng Phong.

Tiền thân của trường THPT chuyên Lê Hồng Phong là trường Thành Chung Nam Định ra đời theo nghị định số 2455 do Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ký ngày 24-08-1920.

Trường có 2 lớp (năm thứ nhất và năm thứ hai), học nhờ trường Cửa Bắc. Người Pháp giảng dạy một số môn. Người Việt Nam có thêm thầy Vũ Văn Roãn.

Với 3 lớp, trường chuyển về phố Gốc Ngái. Nhà trường có thêm các thầy Nguyễn Văn Bằng, Mai Phương, Nguyễn Gia Tường.

Giám đốc Nha học chính Bắc Kì quyết định cho Nam Định được mở tiếp năm thứ tư. Do đó, trường mới được xây dựng ở đầu phố Bến Ngự (nơi đặt trường Tiểu học Phạm Hồng Thái bây giờ).

Trường chuyển ra địa điểm mới và theo Nghị định số 2419 lúc bấy giờ của toàn quyền Đông Dương ký ngày 23-09-1924, trường đổi tên là Cao đẳng tiểu học Pháp-Việt.

Nhà trường tuyển 80 học sinh (vẫn chưa tuyển nữ sinh), nhưng năm học sau chỉ tuyển 40 học sinh vì thiếu lớp học. Năm 1925 Sac-lơ Pa-trix, một nhà văn, được bổ nhiệm làm hiệu trưởng.

Trường có thêm nhiều thầy dạy, các thầy người Việt Nam, tính đến năm 1925 có thêm 15 người. Học sinh trường Thành Chung Nam Định có truyền thống học giỏi và yêu nước, chịu ảnh hưởng của các phong trào yêu nước và phong trào cách mạng sớm lan tỏa vào trường trong giai đoạn này.

Nhà yêu nước Phan Chu Trinh mất. Nhân dân Nam Định cũng đã đấu tranh đòi được tổ chức lễ truy điệu cụ Phan, nòng cốt là học sinh trường Thành Chung. Học sinh đã bãi khóa và tổ chức thành công lễ truy điệu.Năm 1927 đồng chí Nguyễn Văn Hoan đã tổ chức chi bộ VN TNCMĐCH đầu tiên ở trường Thành Chung.

Nhiều học sinh của trường Thành Chung...lần lượt được kết nạp Đảng. Năm 1928 có một số gia nhập Đảng Cộng Sản: anh Nghiêm Tử Trình (sau này là Ủy viên Ủy ban Hành chính Hà nội những năm 1950) và nhà văn Nguyễn Tuân.

Bộ máy nhà trường có nhiều thay đổi. Thực dân Pháp khủng bố mạnh. Nhiều học sinh là nòng cốt của phong trào đã thôi học, đi hoạt động cách mạng.

Nhà trường có thêm một số giáo viên. Hiệu trưởng Agard bị đổi đi nơi khác, Pierre Maneval về thay. Pháp cho xây dựng một trường lớn có 8 lớp ở đầu đường Cổng Hậu. Di tích còn lại của trường nay là phố Thành Chung.

Trường chuyển về địa điểm mới và bắt đầu nhận học sinh nữ. Mỗi lớp có khoảng 5 nữ sinh. Năm học 1938-1939, nhà trường có nhiều thay đổi về bộ máy.

Có thêm nhiều thầy nối tiếp nhau về trường. Năm 1942 trường cao đẳng tiểu học Pháp-Việt đổi tên thành trường Trung học. Sau đó lại được đổi tên thành trường Trung Học Nguyễn Khuyến. Ít lâu sau thầy Phó Đức Tố, giáo sư trường Bưởi chính thức về làm hiệu trưởng.

Trường đổi tên thành trường Trung Học Chuyên Khoa Nguyễn Khuyến có Ban Toán-Lý-Hóa và ban Vạn vật. Lần đầu tiên bậc trung học chuyên khoa được mở ở thành phố Nam Định. Năm 1947 trường chuyển đến xã Yên Mô, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Một bộ phận của trường Nguyễn Khuyến, chủ yếu là cấp 2, tản cư về Trà Bắc, huyện Xuân Trường Nam Định, do thầy Đào Đình Khánh làm hiệu trưởng.

Pháp đánh Phát Diệm (Ninh Bình), trường THCK Nguyễn Khuyến chuyển vào thôn Ngô Xá, xã Đại Đồng, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đổi tên thành trường THCK Nguyễn Thượng Hiền, có các Ban Toán- Lý - Hóa, Ban Vạn vật là Ban Ngoại ngữ. Năm 1950, Thầy Phó Đức Tố làm hiệu trưởng trường THCK Nguyễn Thượng Hiền

Liên khu 3, đã phát triển thêm một số trường cấp 3 do các thầy của trường Nguyễn Thượng Hiền được cử sang làm hiệu trưởng), đến khi giải phóng, những trường này hợp nhất lại thành trường cấp 3 Liên khu 3 và trở về đặt trụ sở tại thành phố Nam Định (1954).

Trường đổi tên thành trường cấp III Lê Hồng Phong.

Do đế quốc Mỹ bắn phá miền Bắc nên trường đã sơ tán về xã Nhân Tiến và Nhân Thắng huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam. Sau khi hiệp định Paris được ký kết, đầu năm 1973 trường lại trở về địa điểm cũ.

Trường có quyết định của UBND tỉnh Nam Định đổi tên trường cấp III Lê Hồng Phong thành trường THPT chuyên Lê Hồng Phong.

Các nhân vật ưu tú của trường

Trường Chinh

1907 - 1988

Tên thật là Đặng Xuân Khu, quê quán Xuân Trường, Nam Định. Ông được xem như Chủ tịch nước thứ hai của Việt Nam thống nhất khi giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam (1981-1987). Ngoài ra, ông cũng từng giữ các chức vụ quan trọng khác trong hệ thống chính trị của Việt Nam như: Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1941-1956; 1986), Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1960-1975) và Chủ tịch Quốc hội (khóa V, VI). Trường Chinh còn được biết đến là một nhà thơ cách mạng với bút danh Sóng Hồng.

Đặng Việt Châu

1914 - 1990

Tên khai sinh là Đặng Hữu Rạng, quê ở Nam Hồng, Nam Trực, Nam Định. Ông là con thứ ba của Tú tài Hán học Đặng Hữu Mai. Trong kháng chiến chống Pháp, ông giữ nhiệm vụ Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính khu IV, Khu uỷ viên (10/1948-4/1950).
Từ 1955 -1990, ông lần lượt giữ nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Tài chính (1965 - 1974), Phó Thủ tướng Chính phủ,kiêm Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương. Tại thành phố Nam Định nay có một con đường mang tên ông.

Mai Chí Thọ

1922 - 2007

Tên thật là Phan Đình Đống, bí danh Năm Xuân, Tám Cao, là con thứ 5 trong gia đình, em trai của Lê Đức Thọ (tức Phan Đình Khải) và Thượng tướng Đinh Đức Thiện (tức Phan Đình Dinh). Ông là Đại tướng Công an nhân dân Việt Nam đầu tiên, nguyên là Bộ trưởng Bộ Nội vụ từ 1986 đến 1991

Lê Đức Thọ

1911 - 1990

Tên thật là Phan Đình Khải, từng giữ chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương, phụ trách nhân sự của Đảng Cộng sản Việt (1956-1982), trực tiếp phụ trách đoàn ngoại giao Việt Nam đàm phán với Mỹ về Hiệp định Paris. Ông Thọ từng được trao tặng giải Nobel Hòa bình cùng với cố vấn ngoại giao Henry Kissinger vào năm 1973, nhưng ông đã từ chối nhận giải với lý do đất nước Việt Nam chưa thể có được hòa bình chừng nào chưa đánh đổ được chế độ tay sai của Mỹ. Đó là giải Nobel duy nhất dành cho người Việt cho đến nay.

Nguyễn Cơ Thạch

1921 - 1998

Tên thật là Phạm Văn Cương, sinh ngày 15 tháng 5 năm 1921 tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông là một chính trị gia, nhà ngoại giao Việt Nam. Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng Chính phủ), nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Việt Nam. Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đều có con đường mang tên ông.

Thép Mới

1925 - 1991

Tên thật là Hà Văn Lộc, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1925, mất ngày 28 tháng 8 năm 1991 tại thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên quán của ông ở phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội. Thuở nhỏ, ông cùng em trai học ở Nam Định đến trung học.
Ông là một nhà văn nổi tiếng tại Việt Nam, chuyên viết về đề tài Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam.

Nguyễn Đức Cảnh

1908 - 1932

Ông là người làng Diêm Điền, tổng Hổ Đội, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình.Sau khi học xong bậc tiểu học, năm 1923, ông được cho đi học tiếp ở Trường Thành Chung Nam Định Tại đây, ông kết thân với một số bạn bè trẻ tuổi, trong đó có Trường Chinh. Ông là Bí thư đầu tiên của Thành ủy Hải Phòng và là Tổng biên tập đầu tiên của báo Lao động.

Phạm Hồng Hà

1958

Ông quê quán ở xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Việt Nam.

Nam Cao

1915 - 1951

Tên thật là Trần Hữu Tri sinh năm 1915 ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân Hà Nam.
Ông xuất thân từ một gia đình Công giáo bậc trung.Thuở nhỏ, ông học sơ học ở trường làng. Đến cấp tiểu học và bậc trung học, gia đình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường Thành Chung.
Nam Cao là một nhà văn và cũng là một chiến sĩ, liệt sĩ.. Ông là nhà văn hiện thực lớn (trước Cách mạng), một nhà báo kháng chiến (sau Cách mạng), một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ 20.

Nguyễn Tuân

1910 - 1987

Sinh năm 1910 ở phố Hàng Bạc, Hà Nội. Ông trưởng thành trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn,học đến cuối bậc Thành chung Nam Định thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929).Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, sở trường về tùy bút và ký, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. Sách giáo khoa hiện hành xếp ông vào một trong 9 tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Ông được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng Tiếng Việt.

Trần Đăng Tuấn

1957

Ông năm 1957 sinh tại Nam Định. Ông là tiến sĩ chuyên ngành Truyền hình, người làm truyền hình nổi tiếng tại Việt Nam, đồng thời cũng là một nhà từ thiện với chương trình tiêu biểu là "bữa cơm có thịt". Trước khi nhận chức Tổng Giám đốc AVG - Truyền hình An Viên vào năm 2011, ông đã là Phó Tổng Giám đốc Đài TH Việt Nam (từ năm 1996).

Phạm Minh Hạc

1935

GS. Phạm Minh Hạc sinh 1935 tại Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội. Ông nguyên là Bộ trưởng Bộ Giáo dục Việt Nam (từ 16-2-1987 đến 3-1990). Ông cũng nguyên là Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đồng thời là Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân.

Trần Thọ Đạt

1959

Trần Thọ Đạt sinh năm 1959 tại tỉnh Nam Định. Ông là giáo sư, tiến sĩ thống kê và tiến sĩ kinh tế người Việt Nam. Ông nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, một trong 16 thành viên Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc nhiệm kỳ 2016-2021.

Kim Cúc

1944

Bà tên thật là Phan Thị Kim Cúc, sinh năm 1944, từng là ca sĩ trong đoàn văn công Lục Ngạn, phát thanh viên nổi tiếng của Đài Tiếng nói Việt Nam, được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú. Kim Cúc là người đầu tiên đọc bản tin chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam vào trưa ngày 30/4/1975.

Nguyễn Cao Kỳ Duyên

1996

Sinh ngày 13 tháng 11 năm 1996 tại Nam Định, là học sinh lớp chuyên Pháp tại Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng. Cô đăng quang hoa hậu Việt Nam năm 2014 khi đang là sinh viên năm thứ nhất khoa Kinh tế đối ngoại, Đại học Ngoại thương Hà Nội.

Thành tích của trường

2

Huân chương
Lao động hạng NHẤT

1

Huân chương
Lao động hạng nhì

4

Huân chương
Lao động hạng ba

2

Huân chương
ĐộC LẬP hạng NHẤT

1

Huân chương
ĐộC LẬP hạng Nhì

1

Huân chương
ĐộC LẬP hạng ba

5

Cờ thi đua
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

3

Danh hiệu
TẬP THỂ LAO ĐỘNG TIÊN TIẾN XUẤT SẮC

11

Bằng khen
BỘ TRƯỞNG BỘ GD&ĐT

21

Kỷ niệm chương
BỘ GD&ĐT

8

Bằng khen
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

19

Bằng khen
CHỦ TỊCH UBND TỈNH

3

Huân chương
Lao động hàng ba
của Chủ tịch nước

3

Danh hiệu
Nhà giáo ưu tú
của Chủ tịch nước

22

Giấy khen của
Giám đốc sở GD&ĐT

15

Nhà giáo ưu tú

Bước qua cánh cổng trường để chính thức được trở thành một thành viên của gia đình chuyên Lê Hồng Phong là ước mơ của biết bao cô cậu học trò Nam Định. Để rồi sau đó, cánh cổng ấy trở thành nơi thân thuộc mỗi sáng đến trường và bỗng chốc trở thành một phần để nhớ, để yêu khi đã xa...

Học trò Trần Quỳnh Anh